thuê xe nghệ an xe 35 chỗ cho thuê xe Nghệ An Cửa Lò Tp Vinh cho thuê xe Nghệ An Cửa Lò xe 45 SLIDE 3
thuê xe nghệ an xe 35 chỗ
cho thuê xe Nghệ An Cửa Lò Tp Vinh
cho thuê xe Nghệ An Cửa Lò
xe 45
SLIDE 3
Quảng Trị - Những điều chưa biết

Quảng Trị - Những điều chưa biết

Cập nhật: 09:58 Ngày 01/02/2015

Thue xe Nghe An - Tp Vinh

Quảng Trị - Những điều chưa biết về chiến tranh


Trong lịch sử chiến tranh hiện đại ở Việt Nam, có lẽ Quảng Trị là chiến trường khốc liệt nhất, dai dẳng nhất và thương vong nhiều nhất. Đã hơn bốn mươi năm, nhưng chắc chắn rằng những người lính đã từng có mặt ở chiến trường Quảng Trị năm 1972, còn sống sót đến bây giờ vẫn chưa lý giải được thỏa đáng vì sao mình lại thoát được lưỡi hái tử thần ngày ấy.
Những người tham gia chiến đấu từ đầu chiến dịch Quảng Trị cho đến khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, còn sống sót đến bây giờ vẫn chưa thể quên được âm thanh kinh hoàng của bom đạn, sắc màu thê lương của chết chóc, nỗi uất nghẹn của sông suối, cỏ cây, mây gió trong bầu trời trên mặt đất tả tơi đầy thương tích ở Quảng Trị. Đã bao lần những họ thề thốt xóa cho sạch những đau thương của quá khứ để thanh thản cùng cuộc sống đời thường nhưng nó vẫn ám ảnh đeo bám trong giấc ngủ, trong bữa ăn, mỗi bình minh, mỗi hoàng hôn… Khoảng lặng 40 năm sau cuộc chiến Quảng Trị đủ dài để dân tộc mình trải nghiệm về thắng, thua, được, mất; đủ dài để dân tộc mình khôn ngoan khi cần tránh một cuộc chiến tranh.
Cái tên Quảng Trị có từ triều Nguyễn 1809. Trước kháng chiến chống Mỹ, nó đã chứng kiến sự kiện giữ nước đáng kể: Ngày 4/7/1885 Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi đến Tân Sở, Cam Lộ lập căn cứ kháng chiến, hạ chiếu Cần Vương chống Pháp. Gần bảy mươi năm sau, 17 giờ ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Thụy Sỹ hội nghị Giơnevơ đã quyết định lấy vĩ tuyến 17 Quảng Trị làm giới tuyến quân sự tạm thời, phân định hai miền Nam, Bắc Việt Nam thành hai lãnh thổ, hai thể chế riêng biệt. Trong khoảnh khắc đầu mùa thu ở nơi đẹp nhất lục địa già, các chính khách đặt bút ký Hiệp định Giơnevơ lúc ấy chắc cũng không tiên lượng sẽ xảy ra một cuộc chiến tranh khốc liệt chưa từng thấy, và mười tám năm sau, 1972 trên vĩ tuyến 17 của trái đất xuất hiện Hố Đen Quảng Trị nuốt chửng hàng chục vạn sinh mạng, triệt hạ gần như hầu hết những giấc mơ mới lớn của thế hệ tuổi mười bảy đôi mươi của đất nước hình chữ S lúc bấy giờ.
Quảng Trị là tỉnh nhỏ miền Trung nghèo khó, chỉ những sinh vật cay như ớt, đắng như thuốc lá… là hợp với thổ ngơi vùng đất gió Lào cát trắng này. Vì thế cảnh quan đáng yêu nhất ở Quảng Trị là những dòng sông. Ba con sông lớn nhất ở Quảng Trị có tên đẹp như địa danh trong tiểu thuyết võ hiệp: Hiền Lương, Thạch Hãn và Ô Lâu. Quảng Trị còn có hai dòng sông chảy ngược là Sê Pôn và Băng Hiêng, mang nước từ miền xuôi lên Đông Trường Sơn cho đồng bào Tà Ôi, Pa Kô, Vân Kiều “có tấm lòng trong trắng”. Những dòng sông trong vắt, quanh năm đong đầy mây trời, bóng núi bù đắp cho mảnh đất khô cằn này những lưu vực tươi tốt bình yên.
Thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước có nhiều ca khúc hay đến tận bây giờ. Những giai điệu phát tiết từ tâm hồn ngoan đạo bao giờ cũng gieo vào lòng người cảm xúc hàng hiệu đã đẹp lại bền. Trong số ca khúc hay ấy, có hai bài về Quảng Trị: “Câu hò bên bờ Hiền Lương” và “Tiếng đàn ta lư”. Nó vẫn xuất hiện trong các clíp Karaoke ở các thành phố lớn và vẫn được thế hệ 8X, 9X yêu thích. Nếu tạm niêm phong những cảm quan chính trị, ta thấy ở các ca khúc ấy ánh lên nỗi buồn trong trẻo, niềm hoan lạc kỳ lạ của con người khi được dâng hiến tận cùng.
Hiền Lương trong bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” là tên một con sông cũng là tên một làng bờ Bắc. Chiếc cầu đầu tiên bắc qua sông Hiền Lương được người Pháp xây dựng năm 1928, dài 170m, rộng 2m bằng ván gỗ, cọc sắt chỉ dành cho người đi xe đạp, đi xe tay và đi bộ. Năm 1952 người Pháp nâng cấp cầu này thành cầu trụ bê tông dài 178m, rộng 4m, trọng tải 18 tấn chia làm 7 nhịp, lát 894 tấm gỗ. Năm 1974 cầu được xây lại hoàn toàn bằng bêtông cốt thép dài 186m, rộng 9m. Đó là chiếc cầu hậu thế bây giờ được thấy. Sở dĩ nói kỹ về hồ sơ lịch sử cầu Hiền Lương như thế là vì đây là chiếc cầu không chỉ bắc hai bờ của dòng sông mà suốt hai mươi năm nó là cây cầu bắc giữa hai chế độ, là vạch vôi của cuộc chiến, là cây cầu không phải để đi mà chỉ để đứng, đứng canh chừng nhau bằng họng súng!
Dòng Hiền Lương bắt đầu từ núi Động Châu cao 1.257m. Chiều dài dòng sông chỉ 65km nhưng lưu vực sông rộng tới 890km, chảy ra cửa Tùng… Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ, đã diễn ra cuộc chiến tranh âm thanh giữa hai bờ Hiền Lương kéo dài hàng chục năm mà thắng thua chỉ có thể phân định nhờ tinh thần AQ và sức mạnh Đông Ki Sốt của mỗi bên sở hữu nhiều hay ít. Bên bờ Bắc ở các làng Huỳnh Hạ, Tiên An, Di Loan hàng trăm chiếc loa kim kỹ nghệ Trung Quốc có chiếc miệng rộng tới 1,72m, công suất mấy trăm oát, chõ sang bờ Nam. Đáp lại bờ Nam cũng trả đũa bằng dàn âm thanh công nghệ Hoa Kỳ, công suất không hề kém cạnh. Cuộc chiến tranh âm thanh “ông bốn chín bà năm mươi” ấy triền miên dai dẳng đến độ, tưởng như sông Hiền Lương cũng muốn chia nước thành hai dòng riêng biệt. Tiếng loa hai bờ khi lên bổng xuống trầm còn bóng người vẫn lặng lẽ lầm lì, lặp lại những cử chỉ dáng điệu như thể đã lập trình. Mỗi bên giữ một nửa cầu. Mỗi bên có ba cảnh sát được qua lại nhận thư từ, bưu thiếp của hai miền. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhận vào ngày chẵn. Việt Nam Cộng Hòa nhận vào ngày lẻ. Thời gian có thể chia lẻ, chẵn nhưng cây cầu và lòng người thì chỉ một.
“Thuyền ơi có nhớ bến chăng. Bến thì một da khăng khăng đợi thuyền”. Một đất nước, một dân tộc luôn đau đáu nỗi niềm ấy, làm sao có thể chia cắt!.
Tháng 6 năm 1966, Mỹ xây dựng phòng tuyến Macnamara dọc lưu vực sông Hiền Lương, trị giá hai tỷ USD, tương đương gần chục tỷ USD bây giờ. Phòng tuyến gồm 17 căn cứ giăng kín Đông Hà, Ái Tử, Tà Cơn, La Vang. Phòng tuyến được trang bị hệ thống cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn hiện đại chưa từng có. Bất kể một con chuột, một cánh chim xuất hiện gần phòng tuyến là bị phát hiện. Nhưng nếu là phát minh của con người thì con người đều biết cách chế ngự, khuất phục. Lường trước điều đó người Mỹ xây dựng thêm một phòng tuyến thứ hai, phòng tuyến phi vật thể, đó là phòng tuyến lòng dân. Với triết lý những gì không mua được bằng tiền, sẽ mua được bằng rất nhiều tiền, người Mỹ sử dụng chính sách củ cà rốt ở vùng đất nghèo khó này. Mấy trăm ngàn dân Quảng Trị được hưởng chế độ phúc lợi xã hội hậu hĩnh hàng tháng bằng “tiền tươi thóc thật”. Dân Quảng Trị không làm vẫn được ăn no mặc ấm. Bửu bối cây gậy và củ cà rốt của Mỹ thật lợi hại linh ứng ở hầu hết bề mặt địa cầu này nhưng ở mảnh đất miền Nam Việt Nam lại không đắc địa. Từ khi phòng tuyến Macnamara được hoàn tất, đôi bờ dòng sông có cái tên thơm thảo, yên lành ấy không còn dấu tích của cuộc sống Hiền Lương thuở nào nữa. Thay vào đó bạo lực chiến tranh phô bày niềm kiêu hãnh bằng những cảnh chết chóc hoang tàn ngay trên những bờ xôi ruộng mật. Lưu vực gần một nghìn cây số vuông của Hiền Lương thành bãi chiến trường thảm khốc. Những cuộc tấn công, phản công bằng bom pháo, xe tăng từ Gio Linh đến La Vang, Ái Tử… diễn ra suốt ngày đêm. Không thể thống kê sau hai mươi năm chiến tranh có bao nhiêu máu chảy xuống dòng, có bao nhiêu xương vùi dưới đáy sông này.
Quảng Trị luôn là vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với cả ta và địch. Nó không chỉ là tuyến đầu mà còn là cửa ngõ của cả chiến trường miền Nam. Giành Quảng Trị không chỉ đơn thuần là giành dân giữ đất mà còn là sự tranh giành vị thế tư tưởng, tâm lý chiến tranh. Chính vì thế chiến trường Quảng Trị luôn là sàn đấu của những võ sỹ hạng nặng, những cuộc so găng đỉnh cao, nơi thử sức cho những cú nok ao kinh điển. Ngay sau khi Mỹ Ngụy hoàn công hàng rào điện tử Macnamara, ta đã nắn gân địch bằng một trận đánh thí điểm ở Làng Vây tháng 2 năm 1968. Trung đoàn 203 thiết giáp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mở rộng hành lang chiến thắng cho các trận đánh tiếp theo mà đỉnh cao là chiến dịch Đường Chín – Nam Lào bắt sống đại tá Thọ và nhiều cố vấn quân sự Mỹ.
Đầu năm 1972, sau khi hoàn tất bước đột phá ngoại giao với Trung Quốc, Mỹ điều chỉnh chiến lược quân sự ở Châu Á Thái Bình Dương, manh nha một hiệp định về Việt Nam, hậu thuẫn cho Mỹ rút quân khỏi chiến trường miền Nam. Ở các vùng chiến thuật, lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa được tăng cường để thay thế vị trí các đơn vị quân đội Mỹ sẽ rút đi. Vùng chiến thuật 1, trong đó có Quảng Trị được ưu tiên hàng đầu. Địch bố trí ở đây ba sư đoàn bộ binh chủ lực, một lữ đoàn lính thủy đánh bộ, bốn tiểu đoàn pháo mặt đất, một sư đoàn không quân và lực lượng hải quân vùng 1. Về vũ khí, khí tài, mặt trận Quảng Trị cũng được ưu tiên đặc biệt. Trong đó có 11 loại trực thăng quân sự như CH34, OH23, OH6A… Nhiều loại chiến đấu cơ hiện đại nhất như F105, A37, B52… Đặc biệt hơn nữa là sự hiện diện của 8 “vua chiến trường”, loại pháo tự hành siêu khủng 175m, nòng dài 11,28m, cự ly 32km. Chỉ cần một lần nghe tiếng nổ đầu nòng, tiếng rít xé không khí trên bầu trời, tiếng gầm rú khi vừa chạm đất của quả tạc đạn nặng 68kg này là nhớ đến bạc đầu.
Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị duyệt kế hoạch tiến công chiến lược trên mặt trận Quảng Trị, cử tướng Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, tướng Lê Quang Đạo làm chính ủy. Lực lượng đầu tiên được điều động tham gia chiến dịch Quảng Trị gồm ba sư đoàn bộ binh chủ lực, hai trung đoàn bộ binh độc lập, tám trung đoàn pháo cao xạ, 9 trung đoàn pháo mặt đất, hai trung đoàn tên lửa, hai trung đoàn xe tăng, hai trung đoàn công binh, 16 tiểu đoàn đặc công thông tin vận tải. Đến tháng 7 năm 1972 tăng cường thêm 2 sư đoàn bộ binh, một từ chiến trường Lào về , một từ chiến trường Tây Nguyên ra.
Như vậy, nếu tính cả lực lượng bảo an địa phương của địch và lực lượng dân quân du kích tại chỗ của ta thì tổng số tay súng trên chiến trường Quảng Trị năm 1972 còn đông hơn cả dân số Quảng Trị thời điểm ấy.
Chiến dịch Quảng Trị mở màn ngày 30 tháng 3 năm 1972. Đầu tiên là trận chiến 81 ngày đêm tại Thành Cổ Quảng Trị. Thành Cổ diện tích chưa đến 3km2 nhưng đã nuốt gọn hàng ngàn tấm bom đạn và hàng vạn mạng sống. Dòng Thạch Hãn mùa khô không đủ nước gột rửa mùi tanh của máu, mùi khét của thuốc súng nên nghẹn ứ uế khí và tang tóc. Lẫn trong xác lính là xác dân, những người dân nhẹ dạ, ngờ ngệch trên đường di tản về Huế trúng đạn ngã đổ trên cầu như chém chuối. Những tay súng thiện chiến của sư đoàn 308, những lính trẻ thư sinh quả cảm chẳng khác gì nghĩa sỹ Cần Giuộc thời chống Pháp, những sỹ quan dày dạn kinh nghiệm trận mạc… đều bình đẳng chết trước cơn động kinh của chiến tranh. Chỉ những người trong cuộc chiến ấy mới cảm nhận được sự hài hước, vẽ vời của binh pháp. Những chiến thuật vu hồi, tập kích… trong sách vở không phù hợp ở đây. Đó là cuộc đấu súng tập thể mà tất cả các chiến binh đã bịt mắt để tạo ra khoảng tối giữa hai chiến tuyến. Vũ Đình Văn, Nguyễn Văn Thạc… là những liệt sỹ trong số rất ít liệt sỹ, may mắn được nhiều người biết đến qua những bài thơ , trang nhật ký của các anh. Còn hàng vạn hồn cốt tuổi mười bảy đôi mươi đẹp như thế, đẹp hơn thế vẫn âm thầm bên dòng Thạch Hãn. Biết đâu sự yên lặng, bí mật của dòng sông lại là điều may mắn để siêu thoát linh hồn cho những người đã chết!
Cối xay thịt Quảng Trị không chỉ vận hành 81 ngày nơi Thành Cổ mà kéo dài tới đầu năm 1973. Từ tháng 8 năm 1972, tầm hoạt động của nó bao phủ toàn lưu vực hai con sông Thạch Hãn và Hiền Lương. Sau khi quân ta rút khỏi Thành Cổ, địch nống ra quyết liệt dồn ép quân ta dọc bờ Thạch Hãn từ Triệu Phong, Hải Lăng đến cửa Việt. Nhiều sư đoàn quân ta đã kiệt sức như sư 308, sư 304… Thế chân vào đó là những đơn vị tân binh, tuy đã bén mùi thần chết khi hành quân qua các trọng điểm nổi tiếng ác liệt trên đường Trường Sơn như Cua Chữ A, Ngầm TaLê, Đèo Phu La Nhích… Nhưng đối với chiến trường Quảng Trị họ như quân xanh quân đỏ mới chỉ thuộc lòng những bài chiến thuật trong trận giả! Nhịp sinh học chưa kịp thích ứng với cuộc sống chiến trận kỳ lạ ở chiến trường này, phản xạ chậm trước bất ngờ của bom đạn địch, kỹ năng sử dụng khí tài chưa tốt… dẫn đến hoang phí thương vong. Biết bao nhiêu cái chết “giận thì giận mà thương thì thương” như thả ngược đạn cối 82 sát thương cả khẩu đội, sử dụng lựu đạn mỏ vịt không đúng cách tự giết chính mình, không biết garô dẫn đến chết vì mất máu hoặc hoại tử nhiễm trùng, chết đuối khi vượt dòng Thạch Hãn… Những liệt sỹ một đêm tuổi, một ngày tuổi chiến trường ở Quảng Trị không ít. Có tân binh hy sinh mà chưa kịp thuộc hết mặt tiểu đội mới, chưa kịp bắn một viên đạn.
Lợi thế của địch hơn hẳn ta về vũ khí, khí tài, lại được mùa mưa giúp sức. Quân ta cứ phải lùi mãi về phía Bắc. Cả hai đều muốn chiếm ưu thế để mặc cả trong Hội nghị Paris về Việt Nam. Suốt mùa mưa năm 1972, Thạch Hãn như bức tường thành bằng nước, bên công bên thủ. Sư đoàn 312 được lệnh phải bám trụ phía thượng nguồn Ba Lòng, chốt chặn vững chắc các cao điểm 132. Đồi Thông, Đồi Cháy. Đại tá sư trưởng Nguyễn Hòa và Đại tá chính ủy Lê Chiêu trực tiếp ở bộ tư lệnh tiền phương, chỉ huy tác chiến. Sư 312 là sư đoàn nổi tiếng với những chiến công xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ thời chống Pháp, chiến dịch Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng thời chống Mỹ, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu ở địa hình đồi núi. Nhưng Quảng Trị mùa mưa năm 1972 là chiến trường đặc biệt, kinh nghiệm và lòng dũng cảm chưa hẳn đóng vai trò quyết định chiến thắng. Diễn biến khôn lường của tình thế chiến dịch và những tổn thất lớn bất ngờ của các Trung đoàn bộ binh có lúc đã đẩy sư đoàn 312 vào thế phòng thủ bị động.
Sau 81 ngày đỏ lửa ở Thành Cổ là những trận chiến đẫm máu diễn ra ở cửa Việt, Động Ông Gio, Tích Tường, Như Lệ… Nếu như đồi A Bia sau trận chiến 7 ngày tháng 5 năm 1969 ở mặt trận Thừa Thiên Huế được mệnh danh là “đồi thịt băm”, được coi là khủng khiếp nhất chiến trường Miền Nam tính đến thời điểm đó thì ở Quảng Trị trong mùa Thu Đông 1972 có hàng chục đồi thịt băm như thế. Chỉ trong một đêm, đại đội 1, đại đội anh hùng thuộc tiểu đoàn 7, hy sinh gần hết trên đồi Cháy: Chỉ một buổi trưa nguyên một tiểu đoàn cảm tử độc lập, đa số là tình nguyện quân Thanh Hóa bị xóa sổ hoàn toàn trên đồi Mâm Xôi… Bên cái chết bi tráng liên tục diễn ra là cái sống mong manh, ngắc ngoải, bầm dập trong hầm chữ A, trong giao thông hào… Nắng cháy da, mưa bủng thịt. Lính bộ binh trên chốt mỗi ngày chỉ được sử dụng một ăng gô nước, tương đương một lít rưỡi, sền sệt mùi bùn, thum thủm mùi thịt thối cho việc tắm rửa, vệ sinh răng miệng. Để tránh thương vong, lính chốt thường phải sử dụng nước đọng trong hố bom hố pháo, vét cạn đáy trơ ra những xương sườn, xương ống, xương sọ… Thức ăn chủ yếu là lương khô, canh tàu bay rau má. Thi thoảng bòn mót được đọt chuối, câu được mấy chú ễnh ương, nhái bén để có món xào xáo, kể như đại tiệc. Cứ ba mươi phút một trận bom, mười lăm phút một trận pháo. Nhô đầu trên mặt đất thì xơi pháo phạt, chui đầu dưới hầm nơm nớp pháo khoan, di chuyển lộ liễu thì lãnh M79… Đa số ta hy sinh vì mìn, bom, pháo… Những cái chết không toàn thây. Mảnh bom có thể cắt ngang lưng. Mảnh pháo có thể phạt nửa đầu, chém cụt cánh tay. Mảnh M79 có thể xổ hết gan ruột… Ban đêm, chỉ có cách nhận dạng thi thể đồng đội qua đôi dép đúc hay quần áo Tô Châu… Rồi dồn vào ba lô con cóc hay quấn trong tăng võng, có khi gói lẫn phần thi thể của người này với người khác. Không đủ thời gian để chôn sâu, chẳng may trúng bom pháo lần nữa coi như số cốt nhục ấy tan cùng cát bụi lại trôi xuống suối, về sông.
Trong số mười hai con sông ở Quảng Trị có ba sông lớn nhất là Ô Lâu, Thạch Hãn, Hiền Lương. Ô Lâu từng chứng kiến mối tình sử thi của công chúa Trần Huyền Trân và Vua Chế Bân, đem về cho Đại Việt cả vùng Ma Linh của nước Chăm năm 1306. Hiền Lương soi bóng niềm khắc khoải đoàn tụ Bắc Nam, chôn cất dĩ vãng đau thương ngay từ đầu cuộc chiến. Thạch Hãn 1972 trở thành tượng đài lịch sử và cùng với Hiền Lương, hai dòng sông nghĩa trang lớn nhất Việt Nam.
Sông Thạch Hãn dài 100km, lưu vực rộng 2.660km,khởi nguồn từ Động Sa Mui, chảy ra Cửa Việt. Thạch Hãn là dòng sông được triều Nguyễn đúc danh vào Cửu Đỉnh ở Huế, được Nguyễn Khuyến vịnh thơ:
“Tây phong hà xứ xuy trần khởi .
Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”
Thạch Hãn xa xưa ngon ngọt thành đặc sản rượu Kim Long, bún Phương Lang… Trong kháng chiến chống Pháp, thượng nguồn Thạch Hãn trở thành chiến khu Ba Lòng nổi tiếng. Nếu phiên Hán – Việt, Thạch là đá, Hãn là mồ hôi, có thể hiểu Thạch Hãn là mồ hôi của đá. Một dòng sông kết tụ từ mồ hôi của đá, hẳn là chắt chiu nhọc nhằn, hẳn là trong vắt tâm linh Quảng Trị. Thạch Hãn 1972 đã cho người lính trải nghiệm những đêm chiến tranh với biết bao cảm xúc cùng với nước với trăng và với cả thần chết. Đó là những lần bập bềnh qua lại trên sông chỉ với một cái phao tự chế bằng bao gạo ni lông màu xanh dương của Trung Quốc, nhét chặt quân trang, khí tài, thực phẩm đủ cho người lính nếu lạc đơn vị vẫn có thể tự vệ để sống. Có thể chết trên dòng vì đuối nước, vì bom đạn. Nhưng nếu được lệnh sang sông chuyển thương, tải đạn… người lính nào cũng hăm hở, hồi hộp như sắp được gặp tình nhân.
Quảng Trị có hai nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia. 10.263 phần mộ của các liệt sỹ trong nghĩa trang Trường Sơn. 9.423 phần mộ trong nghĩa trang Đường Chín. Đó là những nghĩa trang trên đất, chắc chắn hiện diện được danh tính phần hồn hơn hai mươi vạn liệt sỹ nơi đây. Còn hàng vạn liệt sỹ khác, người được gia đình, đồng đội quy tập về quê, người nằm lại với dòng sông Hiền Lương, Thạch Hãn.
Bên bờ Thạch Hãn, Hiền Lương đã xây Bến Thả Hoa, là nơi bày tỏ nghi lễ cầu siêu cho những hồn cốt vô danh yên nghỉ dưới mặt nước của hai dòng sông này. Những người lính Quảng Trị thuở ấy còn sống bây giờ đã ngã ngũ vinh quang, rung rinh răng tóc,trong giấc ngủ nhiều người còn giật mình thảng thốt khi những mất mát đau thương trong quá khứ chợt hiện về…
Cuộc chiến nào rồi cũng qua đi…vết thương nào rồi cũng liền da.nhưng những tổn thất quá lớn trong quá khứ vẫn đang đè nặng lên cái dải đất miền trung đầy nắng và gió này…
Giờ đây trên bước đường xui ngược Nam-Bắc xin hãy dành một phút nghiêng mình trước mảnh đất tả tơi đầy thương tích trước những anh linh của những người con đất Việt…những con người máu đỏ da vàng đang yên nghĩ nơi thấm đẫm sự nóng bức của gió Lào cát trắng này…
Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm