CHO THUÊ XE NGHỆ AN - CỬA LÒ - TP VINH  CHO THUÊ XE 4 - 7 - 16 - 29 - 35 - 45 CHỖ DU LỊCH xe 45 xe 35 xe hoa SLIDE 3
CHO THUÊ XE NGHỆ AN - CỬA LÒ - TP VINH  CHO THUÊ XE 4 - 7 - 16 - 29 - 35 - 45 CHỖ DU LỊCH
xe 45
xe 35
xe hoa
SLIDE 3
NHỮNG ĐỊA DANH DU LỊCH NGHỆ AN

NHỮNG ĐỊA DANH DU LỊCH NGHỆ AN

Cập nhật: 09:22 Ngày 17/09/2014

THUE XE NGHE AN


NHỮNG ĐỊA DANH DU LỊCH NGHỆ AN


Khu du lịch Cửa Lò

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp ở Bắc Trung Bộ Việt Nam. Bãi biển này thuộc thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 18 km về phía Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội hơn 300 km, và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1400 km. Cửa Lò cũng được nối với Lào và Bắc Thái Lan bởi Quốc lộ 8 và cách Viêng Chăn thủ đô của Lào 468 km.

Biển Cửa Lò

Biển Cửa Lò trong mùa lễ hội
Đến Cửa Lò bằng các phương tiện như ô tô, tàu thuỷ, tàu hoả, kể cả máy bay đều rất thuận lợi. Du khách có thể đi từ Vinh theo quốc lộ 46, hoặc đường Vinh - Cửa Hội. Nếu đi theo hướng từ Hà Nội vào, qua cầu Cấm rẽ trái và đi tiếp khoảng 8km nữa là đến khu du lịch Cửa Lò.
Khu du lịch Cửa Lò với bãi biển Cửa Lò nổi tiếng nằm bên bờ biển Đông, được ôm gọn giữa hai cửa biển: Cửa Lò phía bắc, Cửa Hội phía nam. Nơi đây có hai con sông đổ ra biển:đó là sông Cấm ở phía Bắc và sông Lam ở phía Nam.
Bãi tắm Cửa Lò dài trên 10km, có độ dốc thoai thoải, cát trắng phẳng mịn, nước trong và sạch, không pha lẫn bùn như một số bãi biển khác. Phía trên bãi biển còn có nhiều khu lâm viên rộng với những rặng phi lao, rặng dừa xanh tốt. Nước biển ở đây có độ mặn rất cao. Vì thế, Cửa Lò là một trong những bãi tắm lý tưởng ở Việt Nam.
Đảo Lan Châu nằm ngay sát biển Cửa Lò, chia bãi tắm Cửa Lò thành hai khu vực riêng biệt. Những lúc triều dâng, toàn đảo dầm chân trong nước biển. Dưới chân núi, về phía đông nam có nhiều tảng đá lớn, hình thù kỳ lạ với nhiều tên gọi khác nhau. Trên đảo, năm 1936, vua Bảo Đại đã cho xây lâu đài để nghỉ dưỡng. Từ đây, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị xã Cửa Lò và được phóng tầm mắt nhìn ngắm biển khơi bao la. Tại đây có loài cúc biển đẹp lạ kỳ do chính vua Bảo Đại đem giống cây từ Pháp về.
Cách bờ biển 4km là đảo Song Ngư như hai con cá khổng lồ che chắn bão to, gió lớn cho bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội, đây là nơi sinh sống của các hệ động thực vật rất phong phú như: khỉ, dê hoang dã, chim v.v...Xa xa, ngoài khơi chừng 20km là núi Quỳnh Nhai. Núi cao 218m, sâu 24m so với mặt biển. Quỳnh Nhai gồm Hòn Lớn và Hòn Con.
Bãi biển Cửa Lò trong chiều dài lịch sử tự nhiên vốn là một bãi biển dài, đẹp với dải cát trắng và ánh nắng vàng. Đó cũng là nơi cư trú của các làng chài và nơi tắm biển, nghỉ ngơi, dạo chơi của cộng đồng dân cư quần tụ còn thưa thớt cho đến cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên cho đến lúc đó, Cửa Lò vẫn chưa phải là nơi nghỉ mát, tắm biển thực sự quan trọng của các dân cư đất Việt nói chung. Bởi lẽ đó chưa phải là nhu cầu bức thiết của cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn và dọc mảnh đất Miền trung này. Đến cuối thế kỷ thứ XIX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến Nghệ An. Vinh trở thành một trung tâm công nghiệp, nơi tập trung đông đảo công nhân và cả bộ máy hành chính với đội ngũ viên chức người Pháp, người Việt. Sự thay đổi xã hội đó và những vị thế về cảnh quan thiên nhiên là lý do chủ yếu để người Pháp chọn Cửa Lò làm nơi xây dựng một khu biệt thự nghỉ mát dành riêng cho người Pháp( khu biệt thự này đã bị phá hủy trong chiến tranh).Cùng với việc công nghiệp hóa Thành phố Vinh – Bến Thủy, người Pháp cho xây dựng hệ thống giao thông hoàn chỉnh: Đường Vinh đi Cửa Hội, Cửa Lò và các điểm nghỉ dưỡng với cách bố trí đảm bảo an toàn và ý nghĩa danh thắng. Bên cạnh các khu du lịch lần lượt ra đời trong thời gian đó: SaPa (1903), Mẫu Đơn (1906), Tam Đảo (1904), Ba Vì (1906), Sầm Sơn (1907), Bạch Mã (1906), Bà Nà (1904)…Ngày 05/06/1907 đã lấy làm ngày ra đời của du lịch Cửa Lò. Điều này khẳng định các giá trị vốn có và lâu đời của du lịch Cửa Lò để có các giải pháp khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng Cửa Lò thành đô thị du lịch thật sự theo đúng tiêu chuẩn.
Nguồn hải sản ở đây rất phong phú, khoảng trên 200 loại cá, nhiều loại đặc sản như: tôm, mực, cua, rắn biển, cá mú... Đến với Cửa Lò, du khách không thể bỏ qua việc thưởng thức các món ẩm thực mang hương sắc vùng biển Miền Trung này. Đó là các món:nước mắm hạ thổ, mọc cua bể, các món mực, cá giò 7 món, ghẹ hấp me, cháo nghêu, cháo lươn…Các món ăn đặc sản này du khách đều  có  thể  thưởng  thức ngay tại các nhà hàng và dân dã hơn nữa là ngay tại bãi biển. Lý thú nhất là món ăn mực nhảy (một loại mực ống, nhỏ như ngón tay, khi vớt lên bờ vì còn tươi nên trên lưng có những đốm nháy sáng màu tím), chưa có bãi biển du lịch nào có món ăn này, chỉ cách bờ khoảng 50 đến 100 m, du khách đi thuyền nan (có người điều khiển) sẽ được câu mực và nướng mực (hoặc hấp) ăn ngay sau vừa mới được câu lên. Nếu bạn là người yếu bóng vía, không ra khơi được với ngư dân thì chỉ việc ngồi trên bãi biển và đợi, thi thoảng sẽ có một chiếc thúng vào và bạn có thể đến xem mua những giã mực sim, hoặc tôm cá còn tươi rói, nhảy búng lách tách. Sau đó đưa vào những hàng quán hiếu khách và hấp lên là đã có thể đánh chén một bữa hải sản đáng nhớ.
Hàng năm, cứ đến ngày 1 tháng 5, ngày Quốc tế Lao động cũng là ngày mở lễ hội Sông nước Cửa Lò để khai trương mùa du lịch biển. Lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc như các trò chơi truyền thống, thi bơi thuyền rất sôi động và tiết mục bắn pháo hoa. Mùa du lịch kết thúc vào cuối tháng 9.
Với hơn 100 năm hình thành và phát triển Cửa Lò đang trở thành điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Đây cũng là ngành quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Cửa Lò nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.

Khu du lịch Bãi Lữ

Nhắc đến Nghệ An thì ai cũng nghĩ đến Cửa Lò, nhưng còn có một bãi biển nữa cũng đẹp và hoang sơ không kém, đó là Bãi Lữ thuộc địa phận huyện Nghi Lộc của Nghệ An. Tên gọi Bãi Lữ bắt nguồn từ tên của ngọn núi Lữ Sơn đứng sừng sững hàng ngàn năm trên bãi biển.
Truyền thuyết kể rằng, có một chàng lữ khách si tình thích ngao du trong thiên hạ, đến đây đã phải lòng nàng tiên cá với sắc đẹp và giọng hát mê hồn. Chàng đã lần theo tiếng hát của nàng ra biển cả và dừng chân bên chùa dâng hương cầu phật để tiếp thêm sức mạnh cho tình yêu, rồi đứng chôn chân thẫn thờ ngoài biển, hóa thân thành núi Lữ. Bãi biển dưới chân núi đó chính là Bãi Lữ…
Cũng tại địa danh này, theo truyền thuyết dân gian, là nơi từng diễn ra bi kịch với cha con Vua An Dương Vương, khi nhà vua buộc phải tuốt kiếm chém Mỵ Châu trước khi trầm mình xuống biển.Lịch sử với nhưng sự kiện đau buồn đã lùi xa, nay Bãi Lữ là một khu nghỉ mát cao cấp hội đủ ba điều kiện: Biển, núi, rừng.

Khu du lịch Bãi Lữ

Đến Bãi Lữ, du khách sẽ bị choáng ngợp bởi sự kết hợp hoàn hảo giữa một bên là làn nước trong xanh của biển cả được điểm tô lung linh hơn bởi những phiến đá tự nhiên, và một bên là màu xanh của những cánh rừng thông vươn mình ra biển lớn. Tất cả hòa quyện làm mê hồn bao du khách từng đến đây. Điều đặc biệt hơn nữa là Bãi Lữ còn nguyên vẹn vẻ đẹp hoang sơ mà thiên nhiên đã ban tặng. Nước biển trong vắt có thể nhìn rõ từng viên sỏi nhỏ, những bãi cát dài như dải lụa uốn lượn bên đường viền con sóng tạo cho Bãi Lữ vẻ mềm mại, duyên dáng của thiếu nữ. Đứng trên ngọn núi Lữ, du khách có thể ngắm cả một vùng rộng lớn. Phía biển khơi (Đông - Nam) thấy rõ Song Ngư, Đảo Mắt, Lan Châu và gần hơn nữa vào đất liền là Hùng Lĩnh, Lan Châu, Núi Rồng, Núi Lò, Núi Cờ, Núi Kiếm, Chuồng Gà, Núi Mão, Tượng Sơn (Núi Voi), Quyết Sơn. Phía Bắc, dọc theo biển là núi Đầu Rồng ( Long Thủ), Hòn Thè, Hòn Câu, Dạ Sơn, Cấm Sơn. Phía Tây là Đại Vạc, Thần Vũ, Lèn Hai Vai, Đại Hải, Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Huệ, Thiên Nhẫn, Lam Thành Sơn…
Với cảnh quan thiên nhiên mà tạo hoá ban tặng, có người ví Bãi Lữ như một “nàng tiên ngủ quên” và “trở mình” khi tỉnh Nghệ An chọn đây là một trong 5 dự án ưu tiên đầu tư. Một Việt kiều tại Mỹ, quê gốc Nghệ Tĩnh đã quyết định đầu tư dự án xây dựng khu du lịch Bãi Lữ và được địa phương chào đón.
Hiện nay, đã có rất nhiều đoàn khách và du khách đến Bãi Lữ nghỉ dưỡng, tắm mát, ngắm cảnh. Bãi Lữ đã và đang là là một trong những nơi nghỉ dưỡng lý tưởng nhất của Nghệ An và cả nước.

Khu di tích và miếu mộ vua Mai Hắc Đế

Để tưởng nhớ công ơn vua Mai Hắc Đế - vị anh hùng có công đánh đuổi giặc Đường, lập nên nhà nước Vạn An độc lập ở thế kỷ 8, một ngôi đền đã được lập để thờ ông tại đúng vùng đất ông đã lập căn cứ địa của nghĩa quân vua Mai thuở trước. Khu di tích vua Mai Hắc Đế nằm ở ven sông Lam, thuộc địa phận thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn), cách thành phố Vinh khoảng 22km về phía tây. Tại khu di tích này có 3 hạng mục là đền vua Mai, mộ vua Mai (cách đền khoảng 3km) và mộ mẹ vua Mai.

Đền thờ vua Mai

Đền thờ vua Mai được xây dựng trên một mảnh đất rộng rãi thoáng đãng tại vùng đất Sa Nam. Trước đây đền vua Mai là một ngôi đền nhỏ, kiến trúc đơn giản. Đến năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được xây dựng khang trang, to đẹp, kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái. Lần trùng tu gần đây nhất vào đầu thời Nguyễn. Đền được giữ nguyên kiến trúc theo kiểu chữ "Tam", hạ điện 5 gian theo kiểu chồng diêm 8 mái, quy mô tương đối lớn, trang trí rồng phương công phu, các câu đối, đại tự, hương án kiệu rồng được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Đền có diện tích trên 10.000m2.
 Từ đền vua Mai, du khách theo đê 42 hoặc đi thuyền ngược theo tả ngạn sông Lam khoảng 3km về phía tây là đến khu mộ vua Mai. Lăng mộ vua Mai được xây dựng ngay trên khu đất an táng hài cốt Ngài qua đời năm 723, trong thung lũng núi Đụn rộng vài chục mẫu, ba mặt có núi bao quanh, ngoảnh mặt về hướng đông, nhìn thẳng ra dòng sông Lam. Ngôi mộ được xây theo kiểu "thượng miếu hạ mộ" (miếu ở trên, mộ ở dưới). Hiện nay khu mộ đã được tôn tạo lại có qui mô bề thế, trang trí công phu. Khu mộ vua Mai Hắc Đế gồm có mộ, hậu cung, bái đường.
Cách khu lăng mộ vua Mai vài ba cây số về phía Bắc, tại núi Giẻ ở làng Ngọc Trừng  xã Nam Thái có lăng mộ mẹ vua Mai, năm 2000, ngôi mộ đã trùng tu và tôn tạo trên cơ sở giữ nguyên hài cốt tại vị trí người dân địa phương mai táng khi bà tử nạn cách đây hơn 1.300 năm trên đỉnh núi Giẻ.
Theo các tài liệu lịch sử để lại, Mai Thúc Loan vốn gốc quê ở Mai Phụ, một làng chuyên nghề làm muối ở ven biển huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Sau đó mẹ ông rời lên làm nhà dưới gốc cây Mai tại núi Giẻ, làng Ngọc Trừng, thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn ngày nay, sinh ra ông. Từ nhỏ ông đã phải chứng kiến nỗi gian truân, cực nhục của việc cống nạp sản vật lên triều đình nhà Đường. Bản thân ông cũng bao lần phải chịu cảnh cực nhục trên. Chính vì vây ông đã dấy binh khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Đường vào năm 722 và được ba quân suy tôn lên làm vua. Cuộc kháng chiến kéo dài 5 năm (722-726).
Tuy cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng đã để lại một kỳ tích lớn lao. Lần đầu tiên trong lịch sử nghĩa quân của Mai Hắc Đế đã quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, lập nên nhà nước Vạn An độc lập, tự chủ ở thế kỷ 8, buộc nhà Đường sau đó phải bãi bỏ lệ cống nạp sản vật và thay đổi một số chính sách cai trị dân.

Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên

Khu di tích Kim Liên được thành lập từ năm 1956, thuộc lại hình di tích lưu niệm danh nhân, là di tích đầu tiên trong hệ thống bảo tàng và di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn quốc được Đảng và Nhà nước ta có chủ trương bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng những giá trị di sản văn hoá về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá  thế giới”

Khu di tích Kim Liên

54 năm qua, đặc biệt là từ năm 1990 đến nay, mỗi năm Khu di tích Kim Liên đón tiếp tận tình chu đáo, an toàn tuyệt đối cho nhiều đoàn khách cao cấp của Đảng, Nhà nước, các đoàn Nguyên thủ quốc gia của các nước và phục vụ hàng triệu lượt khách tham quan trong nước và bầu bạn quốc tế về tham quan, nghiên cứu, học tập.
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 12 di tích lưu niệm về thời niên thiếu và 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương và có 6 điểm di tích đã đựoc dựng bia ghi dấu sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện thân mật với cán bộ, đảng viên và công nhân viên chức lao động trong tỉnh nhà. Trong số đó có 8 di tích và hơn 4 ngàn hiện vật tài liệu do Khu di tích Kim Liên trực tiếp quản lý, số còn lại do Ban di tích danh thắng tỉnh Nghệ An và một số đơn vị, địa phương khác quản lý.
- Khu di tích lịch sử Kim Liên được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia  theo quyết đinh số 993/QĐ-BVH ngày 28/9/1990 của Bộ Văn hóa thông tin.

Các điểm tham quan tại Khu di tích lịch sử văn hoá Kim Liên

I.Khu di tích Hoàng Trù (làng Chùa) quê ngoại của Chủ tịch HCM


Làng Chùa

Cụm di tích Hoàng trù( làng Chùa) quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nằm ở trung tâm xóm Trù I xã Kim Liên-huyện Nam Đàn- Nghệ An, cách thành phố Vinh 14 km về hướng Tây theo Quốc lộ 46, đến km số 14 ré trái đi khoảng 1km nữa là đến di tích Hoàng Trù. Cụm di tích này bao gồm có 3 ngôi nhà: Ngôi nhà tranh 5 gian của cụ Hoàng Xuân Đường và Nguyễn Thị Kép( ông bà ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh); nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân( họ ngoại Bác Hồ); ngôi nhà tranh 3 gian của bà Hoang thị Loan và ông Nguyễn Sinh Sắc( thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), cả 3 ngôi nhà này đều nằm trong khu vườn rộng 7 sào Trung Bộ tương đương 3.500m2. Noi đây đã chứng kiến những sự kiện quan trọng trong quãng đời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh : nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời vào ngay 19.5.1890 và sống trọn 5 năm đầu tuổi ấu thơ trong tình yêu thương, nuôi dưỡng của ông bà ngoại, bố mẹ, anh chị và bầ con làng xóm và cũng chính nơi đay ngày 09-12-1961 trong lân vêf  thăm quê lần thứ 2 với cử chỉ thân tình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngồi trước thềm nhà và nói chuyện thân mật với bà con trong làng sau 55 năm xa cách quê hương.
Cụm di tích Hoàng trù đã đựoc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1990.
 

II. Di tích Làng Sen- quê nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Làng sen quê Bác

Cụm di tích làng Sen cách cụm di tích Hoàng Trù hơn 1,5km về hướng Tây Nam trên trục đường tham quan 540. Cụm di tích này bao gồm: Nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh sắc( thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh); Giếng cốc; lò rèn cố Điền là nơi ghi dấu những kỷ niệm sâu sắc trong quãng đời niên thiếu và hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương. Năm 1901 ông Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng, bà con làng Kim Liên đã trích quỹ học điền mua và dựng cho ông một ngôi nhà tranh 5 gian, anh trai Nguyễn Sinh Trợ ( Nguyễn Sinh Thuyết) mừng cho em ngôi nhà ngan 3 gian dựng trên mảnh vườn rộng 4 sào 14 thước Trung Bộ tương đương 2.500m2, trong lễ mừng “ Vinh quy bái tổ’ ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và 3 con của mình là bà Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung về sống ở ngôi nhà này, khi về sống cùng cha, anh, chị và bà con làng xóm ở làng Sen, trong những tháng năm đó Nguyễn Sinh Cung tức Nguyễn Tất Thành (tên gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu) đã được tiếp xuc với các nhà nho yêu nước nổi tiếng trong vùng được mệnh danh là “ Tứ hổ Nam Đàn” thường hay lui tới nhà ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc để đảm bảo thời cuộc, bình thơ và cũng chính từ những lần tiêpc xúc đó chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm  hình thành ý thức trách nhiệm của một người dân mất nước, phải ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Năm 1906 Nguyễn Tất Thành tạm biệt quê nhà theo cha vào Huế ăn học và tham gia các hoạt động chống kại cái gọi là “Tự do, bình đẳng, bác ái” của thực dân Pháp. Năm 1911 với tên gọi Nguyễn Văn Ba  đã lên Tàu La tút sơ tờ revin và bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân.
Sau hơn 50 năm xa cách quê hương, sáng ngày Chủ nhật 16-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngôi nhà của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và noíi chuyện thân mật với Đảng bộ và nhân dân xã Kim Liên; 5 năm sau ngày 09-12-1961 Bác Hồ về thăm quê lần thứ  2, sau khi thăm ngôi nhà thân quen của mình Bác đã đến thăm và nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân xã Kim Liên quê Bác.
Năm 1990 cụm Di Tích Làng Sen đã được xếp hạng di tích  lịch sử văn hoá Quốc gia.
 

III. Mộ bà Hoàng Thị Loan ( thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh).


Mộ bà Hoàng Thị Loan

Mộ bà Hoàng Thị Loan ( thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh) toạ lạc trên đỉnh núi Động tranh thấp trong một khu rừng rộng hơn 10ha, thuộc xóm 10 xã Nam Giang, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cách Cụm Di tích Hoàng Trù, Làng Sen khoảng chừng 4km về hướng Đông Bắc.
Từ nhiều năm nay, mộ bà Hoàng Thị Loan đã đón hàng vạn lượt khách trong nước và bầu bạn quốc tế đến dâng hương, tưởng niệm với tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc người mẹ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh một vĩ nhân được thế giới tôn vinh “Anh hùng giải phóng dân tộc- Danh nhân văn hoá thế giới”.
Bà Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Thìn (1868) ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là con gái đầu lòng của cụ Hoàng Xuân Đường và Nguyễn Thị Kép. Năm 1883 vượt qua sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, bà kết hôn vơI Nguyễn Sinh Sắc,, chàng nho sinh nghèo, mồ côI được cụ Hoàng Xuân Đường nuôi cho ăn học. Bà Hoàng Thị Loan, người con gái đẹp người, đẹp nết, thông minh, giản dị cần cù, tảo tần vất vả giúp chồng ăn học và nuôI con khôn lớn, bà đã có công sinh thành và dưỡng dục 3 người con yêu nước Nguyễn Thị Thanh – tự Bạch Liên (1884), Nguyễn Sinh Khiêm – tự Tất Đạt(1888) và Nguyến Sinh Cung – tự Tất Thành tức Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890) các con của bà đều là người giàu nghị lực, chí yêu nước thương nòi và làm nên việc lớn có ích cho nước có lợi cho dân.
Năm 1895 bà quyết tâm cùng chồng và đưa hai con trai của mình là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung vào Huế giúp chồng học tập và nuôI con trưởng thành. Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-02-1901) bà mất tại Huế, thi hài của bà được bà con xứ Huế mai táng ở núi Tam Tầng bên dãy núi Ngự Bình – Huế.
Năm 1922 hài cốt của bà được con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh đưa về táng trong vườn nhà tại Làng Sen.
Năm 1942 người con trai cả là Nguyễn Sinh Khiêm chuyển hài cốt của bà đặt ở Núi Động tranh thấp.
Tháng 5- 1984 Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh cùng lực lượng vũ trang quân khu 4 đã tôn tạo phần mộ của bà tại vị trị cũ như hiện nay.
Năm 2010, khu mộ bà Hoàng Thị Loan lại một lần nữa được tu bổ tôn tạo lại. Ngày 21/7/2010 công trình được khởi công xây dựng và khánh thành ngày 3/6/2011. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã về dự lễ.

Mo Ba Loan

Khu mộ bà Hoàng Thị Loan hiện nay là một công trình kiến trúc có kiểu dáng đẹp và gần gũi, mái che mộ có hình khung cửi cách điệu với 6 dải lụa mềm mại gợi nhớ cuộc đời canh cửi vất vả nuôi chồng nuôi con thuở sinh thời. Phía sau phần mộ là bức phù điêu bằng đá trắng khắc hoạ những cánh hoa sen thanh tao, tinh khiết của quê nhà và cũng là biểu tượng về cuộc đời và nhân cách của bà. công trình không đồ sộ mà khiêm nhường, lặng lẽ mà hài hoà với cảnh quan Động Tranh, dãy Đại Huệ và cả vùng non nước Hồng Lam.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh

Bảo tàng được thành lập ngày 15/1/1960, là đơn vị ra đời thứ 3 của hệ thống bảo tàng Việt Nam, sau bảo tàng lịch sử Việt Nam (1958), bảo tàng Cách mạngViệt Nam (1959).
Bảo tàng được xây dựng 2 tầng, trên một khu đất rộng 2 ha vừa có kiến trúc đẹp, cổ kính, vừa hiện đại vừa mang đậm nét bản sắc dân tộc. Đây là công trình văn hoá độc đáo lưu giữ trên 5.000 hiện vật gốc và các tư liệu thể hiện tinh thần cách mạng kiên cường bất khuất của nhân dân Nghệ Tĩnh trong cao trào Xô Viết 1930 - 1931.

Bảo tàng Xô Viết

Trong diện tích trưng bày 1000m2 chia làm 10 phòng khép kín, liên hoàn giới thiệu toàn bộ diễn biến và tiến trình của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh là nơi giữ gìn và ghi nhớ truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, sưu tập, lưu giữ những hiện vật giá trị như: trống đấu tranh, máy ấn loát, vũ khí, các con triện, tranh, ảnh các chiến sỹ cách mạng... và một hệ thống 49 di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng trong danh mục di tích lịch sử văn hoá Quốc gia.
Mỗi năm Bảo tàng đón tiếp 5 vạn lượt khách tham quan, trong đó nhiều đoàn khách nước ngoài như: Lào, Căm pu chia, Anh, Pháp, Mỹ, Nga... Bảo tàng XVNT được vinh dự đón tiếp nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Trường Chinh, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm Bộ trưởng Bộ VH-TT Nguyễn Khoa Điềm...
Bên cạnh việc phục vụ khách tham quan tại nhà trưng bày, bảo tàng đã xây dựng bộ trưng bày lưu động phục vụ nhân dân các huyện đặc biệt là nhân dân ở vùng sâu vùng xa. Đồng thời tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, nói chuyện truyền thống với thanh thiếu niên, học sinh về Xô Viết Nghệ Tĩnh, về Đảng và Bác Hồ và đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với thế hệ trẻ.

Bảo tàng Quân khu IV

Bảo tàng Quân khu IV, thuộc loại hình lịch sử quân sự có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, trưng bày, tuyên truyền giới thiệu các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu IV trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảo tàng QK4

Địa điểm này trước đây nằm trong khu vực Phượng Hoàng Trung Đô của Quang Trung - Nguyễn Huệ, và cũng là nơi diễn ra phong trào Xô Viết (1930 - 1931) với các địa danh Trường Thi, Bến Thuỷ... Cũng tại nơi đây, ngày 16/12/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ chiến sỹ Quân khu IV nhân dịp Người về thăm quê hương lần thứ 2.
Bảo tàng quân khu IV được thành lập ngày 22/12/1966. Tại bảo tàng, phần diện tích mặt bằng của 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế chiếm khoảng 2.180m2. Phần diện tích trưng bày trong bảo tàng chiếm khoảng 2.000m2, còn lại là kho bảo quản và các hoạt động văn hoá khác gần 2.500m2.
Bảo tàng có gần 10.000 hiện vật lịch sử. Nội dung trưng bày được thể hiện qua 6 phần:
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang Quân khu IV.
+ Địa bàn chiến lược, truyền thống yêu nước và cách mạng.
+ Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
+ 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).
+ Đoàn kết Quốc tế Lào - Việt.
+ Lực lượng vũ trang nhân dân quân khu IV trong sự nghiệp đổi mới.
- Phần trưng bày ngoài trời có diện tích 500m2, gồm những hiện vật thể khối lớn như máy bay, tên lửa, pháo của quân và dân quân khu IV đã lập nhiều chiến công xuất sắc cùng với các chiến lợi phẩm thu được của địch trong các chiến dịch như Đường 9 Khe Sanh, thành cổ Quảng Trị (1972), tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975, giải phóng Thừa Thiên Huế, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Ngoài ra còn nhiều hiện vật, hình ảnh nói lên các hoạt động và chiến công của quân và dân quân khu IV trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay.
Trong suốt quá trình xây và trưởng thành, mỗi năm bảo tàng đón gần 100 ngàn lượt khách đến tham quan.

Chùa Cần Linh

Đại Nam nhất thống chí có đoạn viết: Vào đời Đường ý Tông, Cao Biền, một tướng giỏi, đồng thời cũng là nhà địa lý nổi tiếng được cử sang nước Nam làm Tiết độ sứ. Khi đặt chân lên đất Nghệ An, nhận thấy long mạch ẩn vào dãy núi Đại Huệ kéo dài về phía Đông, tạo thành phần đầu của con rồng, biểu hiện tụ khí địa linh nhân kiệt, năm 886 Cao Biền đã cho dựng chùa ở đây để cầu may. Cao Biền đặt tên chùa là Linh Vân tự, nghĩa là chùa mây thiêng.

Chua Can Linh

Ngoài tên gọi Cần Linh, chùa còn có tên Sư Nữ, vì các vị sư trụ trì ở đây là nữ. Vào cuối thời Lê, chùa được xây dựng lại đẹp hơn, trên mảnh đất cao ráo, thoáng đãng ở phía Tây Nam thành phố Vinh. Sách xưa ghi rõ, ngôi chùa thuộc làng Vang, tổng Yên Trường, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang. Chùa nhìn ra bến sông lộng gió, có giếng đá nước trong veo, trước chùa có hai cái ao như đôi mắt của rồng. Phía Đông và Nam chùa có sông Cồn Mộc quanh năm nước chảy hiền hoà.
Trước đây, đã từng có hai vị vua đến thăm chùa, đó là vua Tự Đức và vua Bảo Đại. Đặc biệt, vua Tự Đức đã tặng chùa hai bức vọng bằng chữ Hán với dòng chữ Triện đề: “Vương Triều Đức Tự hiến cúng” cùng bức đại tự Cần Linh, ý nói chùa rất thiêng. Năm 1942, Sư bà Diệu Viên đã tổ chức đại tu ngôi chùa, bảo tồn được nhiều tượng cổ. Ngoài chiếc chuông đồng có niên đại lâu nhất Việt Nam, trên có khắc tên chùa, trong chùa hiện còn lưu giữ khoảng 70 pho tượng cổ và rất nhiều hoành phi câu đối. Đáng quý nhất là bức tượng Phật Thích Ca làm bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng, đặt ở ngay trung tâm nhà thượng điện, lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật được thể hiện rất rõ trên từng đường nét tạo hình của pho tượng.Bức tượng này có giá trị cả về nghệ thuật điêu khắc lẫn niên đại ra đời, bức tượng đã thể hiện được lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật. Kế tiếp sư bà Diệu Viên là Ni sư Diệu Niệm, trong 20 năm trụ trì đã trùng hưng ngôi chùa thành một ngôi chùa khang trang, là điểm sinh hoạt tâm linh cho nhân dân quanh vùng.Sau khi Ni sư Diệu Niệm qua đời, Ni sư Diệu Nhẫn đã kế tục và phát triển những thành quả mà bà đã gây dựng. Bằng sự thông tuệ của mình, chỉ hơn 10 năm trụ trì, ni sư Diệu Nhẫn đã xây dựng được 10 công trình nhằm mục đích trùng tu, bảo dưỡng địa danh được công nhận Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia này. Cùng với quả chuông cổ có tuổi thọ hơn 300 năm, trước cổng tam quan của ngôi chùa, ni sư Diệu Nhẫn đã cho đúc một pho tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt bằng đồng đỏ nguyên chất, nặng 8 tấn được trộn lẫn với 2kg bạch kim, 3,1 cây vàng, đặt trên tòa sen có chiều cao 3m, rộng 2,5m. Đây là một trong những bức tượng lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay.
Ngày nay, Chùa Cần Linh không chỉ là nơi thờ Phật, sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân quanh vùng, mà còn là điểm du lịch hấp dẫn du khách.

Đền Hồng Sơn

Đền xưa có tên là Võ Miếu,cũng có lúc gọi là Đức Ông. Đến năm 1984 đền được mang tên địa danh nên có tên là đền Hồng Sơn.
Ngôi đền này do Đốc học Nguyễn Đình Lập và tướng quân Hồ Văn Lưu khởi công năm 1831.Năm 1837 khánh thành thượng điện, trung điện, còn hạ điện, tả vu, hữu vu được tiếp tục xây dựng. Đền được trùng tu và hoàn thiện nhiều lần trong triều Nguyễn.
Tương truyền đền Hồng Sơn trước đây thờ Quan Công (tức quan Quan Vân Trường, người có tài dụng võ trong thời Tam Quốc).Sau này có hợp tự một số đền trên thành phố Vinh về đền Hồng Sơn, từ đó đền còn thờ nhiều vị thần, thánh, trong đó lớn nhất phải kể đến: Vua Hùng Vương, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo- người đã lãnh đạo nhân dân ta 3 lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông).
- Đền được xây dựng quy mô, bề thế trên một khu đất cao ráo nhìn ra sông Cửa Tiền theo hướng Đông Nam- Tây Bắc, có khuôn viên rộng rãi với những cây cổ thụ trầm mặc. - Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 - 1972) hạ điện bị bom Mỹ phá hỏng.Nhân dịp kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô Vinh (1998), hạ điện đã được trùng tu với quy mô lớn như ngày nay để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của khách thập phương và du khách đến tham quan.
- Ngày nay quy mô công trình bao gồm: Cổng đền, hồ bán nguyệt, nhà bia, tiền sảnh, tháp chuông, hạ điện, trung điện, thượng điện, tả vu, hữu vu.Ngoài ra còn có rất nhiều hành phi, đại tự, câu đối, những tượng cột với những nét chạm trổ tinh tế, sống động mà dấu sơn son thiếp vàng không hề bị mai một trước cái khắc nghiệt hàng trăm năm lịch sử với bao biến cố của thời cuộc.
- Đền Hồng Sơn là một di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Nơi đây, còn lưu giữ được nhiều sưu tập tượng pháp, đồ tế khí rất có giá trị về lịch sử, văn học và tín ngưỡng. Hiện nay đền còn 19 hạng mục kiến trúc khá hoàn hảo thu hút khách thập phương đến lễ bái và vãn cảnh.

Thành Cổ Vinh

Sử sách ghi rằng, chiếm được Phú Xuân (năm 1802), Nguyễn Vương (1762-1820) lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Sau khi lên ngôi vị vua này đưa quân tiến ra đất Bắc. Ðến tháng 6 cùng năm, vua Gia Long thống nhất được sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm. Đến năm 1803, Gia Long ra Bắc, chọn làng Vĩnh Yên (Khu vực Thành cổ bây giờ) nằm phía Tây Bắc núi Dũng Quyết (P.Trung Đô, TP Vinh ngày nay) để xây thành Nghệ An bằng đất. Khi vua Gia Long băng hà, Nguyễn Phúc Đảm (con thứ 4 của vua Gia Long) lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng (1791-1840) mới cho xây lại thành Nghệ An bằng đá ong theo kiểu Vô-băng vào năm 1831 (Vauban là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết kế kiểu thành này).

Thanh co Vinh

Khi “phục dựng” lại Thành, vua Minh Mạng đã huy động tổng lực nhiều sức dân và sức của. Sách ghi: Thành có 6 cạnh, chu vi dài 603 trượng (2.412m), cao 1 trượng, 1 tấc, 5 thước (4,42m), diện tích 420 nghìn m2; bao quanh Thành là hệ thống hào (gọi là Hồ Thành) rộng 7 trượng (28m), sâu 8 thước ta (3,2m). Ngay từ lúc khởi công, Triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1.000 lính Thanh Hoá, 4.000 lính Nghệ An. Đến thời vua Tự Đức (1829-1883), để tiếp tục nâng cấp triều đình đã phải sử dụng 8.599 phiến đá sò từ Diễn Châu (cách Vinh gần 50 cây số) và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía. Tổng kinh phí hoàn thành là 3.688 quan tiền - một số tiền khổng lồ lúc bấy giờ.
Thành cổ có 3 cửa ra vào, cửa tiền là cửa chính hướng về phía Nam, cửa để Vua ngự giá, các quan trong lục bộ triều đình và Tổng đốc ra vào. Cửa Tả hướng về phía Đông, cửa hữu hướng về phía Tây, muốn đi qua các cửa đều phải qua một cái cầu. Bên trong, công trình lớn nhất là hành cung, phía Đông Hành cung có dinh Thống Đốc, phía Nam có dinh Bố Chánh và án Sát, dinh lãnh binh, dinh đốc học, phía Bắc có trại lính và nhà ngục. Sau này phía Tây có nhà giám binh người Pháp. Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc.
- Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Hiện nay Thành Cổ Vinh đã trùng tu lại được 2/3 cổng thành, đồng thời quy hoạch khôi phục lại di tích và đang có dự án cải tạo thành một công viên văn hoá lớn của Thành phố gọi tên là Công viên Thành cổ Vinh với quần thể các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí, du lịch văn hoá đa dạng, phong phú.
4.Xếp hạng di tích, danh thắng.
- Thành Cổ Vinh đã được xếp hạng di tích lịch sử năm 1998 theo quyết định số 95/QĐ-BVH ngày 24/01/1998 của Bộ Văn hóa.

Đền ông Hoàng Mười

Đền ông Hoàng Mười hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười. Đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh huyện Hưng Nguyên, đền còn có tên khác là Mỏ Hạc Linh từ. Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay, đền có 3 toà chính: Thượng điện, Trung điện và Hạ điện.

Den Ong Hoang Muoi

Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.
Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).
Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.
Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách ... để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

Đền Cờn

Đền Cờn là ngôi đền linh thiêng nhất trong 4 ngôi đền thiêng ở tỉnh Nghệ An: “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”. Với thế cận biển, liền sông, gần đường, sát núi, phong cảnh ở Đền Cờn giống như một bức tranh thủy mặc mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Nghệ An.Di tích Đền Cờn gồm có hai đền: Đền Cờn Trong và Đền Cờn Ngoài.

Den Con

Đền Cờn Trong nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra dòng Mai Giang thơ mộng, thờ Tứ vị Thánh nương Nam Hải Đại càn quốc gia. Theo thần phả tại đền và một số tài liệu lịch sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Tứ vị Thánh nương Nam Hải Đại càn quốc gia là bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, 2 công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương (con vua Tống Độ Tông) và bà nhũ mẫu (Trung Quốc). Năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), do quân Tống thất bại trong trận chiến Tống - Nguyên, Vua Tống Đế Bính cùng quan quân nhảy xuống biển tự vẫn. Thái hậu và 2 công chúa vì thương tiếc nhà Vua cũng nhảy xuống biển tự vẫn theo, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn (Nghệ An). Người dân nơi đây đã vớt lên chôn cất và thờ tại Đền Cờn.
Đền Cờn Ngoài nằm cách Đền Cờn Trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Hùng Vương, sát cửa biển Lạch Cờn. Đền gồm 3 tòa bố cục theo kiểu chữ Tam, thờ vua quan nhà Tống (Trung Quốc): Tống Đế Bính, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu. Các vị thần này trước được phối thờ ở Đền Cờn trong, song do quan niệm nho giáo nam nữ bất đồng cung nên đến thời Lê được xây dựng đền thờ riêng.
Đền Cờn xưa nay nổi tiếng linh ứng. Năm Hưng Long thứ 19 (1311), Vua Trần Anh Tông thân chinh đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Cờn, nhà Vua cùng quân lính dừng lại nghỉ ngơi. Ban đêm nhà Vua mộng thấy nữ thần hiện lên và xin giúp nhà vua lập công đánh giặc. Sáng hôm sau, nhà Vua cho vời các bô lão trong vùng đến hỏi mới rõ sự tích. Nhà Vua liền vào đền kính tế. Khi ra quân, Vua kéo quân đến thẳng thành Chà Bàn đánh thắng lớn. Khi trở về kinh đô, nhà Vua làm lễ và phong sắc “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương”, ban vàng bạc và cho xây dựng mở rộng Đền.Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), Vua Lê Thánh Tông trên đường mang quân đánh dẹp phương nam cũng dừng chân tại cửa Cờn và vào Đền làm lễ cầu đào. Do Tứ vị Thánh Nương hiển linh phù trợ, nhà Vua đã đánh thắng giặc. Sau khi trở về, Vua ban cấp tiền bạc xây dựng đền và phong sắc “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh hương thượng thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ”, ghi nhận công đức Thánh Mẫu giúp nước, giúp dân.
Sang thế kỷ 18, vua Quang Trung đã ban sắc phong với mỹ tự “Hàm hoằng quảng đại” (tức là công lao rộng khắp, to lớn) và “Hàm chương tiết liệt”(nghĩa là nêu gương tiết liệt cho muôn đời).Từ đó về sau, người dân vùng biển mỗi khi ra khơi, nếu thành tâm vào Đền cầu khấn thì đều được bình an.
Đền Cờn – công trình kiến trúc cổ với nhiều mảng chạm khắc quanh đề tài “Tứ linh, tứ quý”, đã trở thành trung tâm tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng không chỉ của người dân vùng biển Quỳnh Lưu (Nghệ An) mà còn là của người dân trên mọi miền tổ quốc.Lễ hội đền Cờn diễn ra từ ngày 19 - 21/1 âm lịch hàng năm là dịp để người dân trong vùng cũng như du khách thập phương đến Đền chiêm bái và tưởng nhớ công ơn của Tứ vị Thánh Nương. Với các hoạt động như: chạy ói, diễn trận thủy chiến giả gắn với truyền thuyết dựng đền, đu tiên, đấu vật, đánh cờ người, đua thuyền rồng, hát tuồng, chèo, chầu văn..., chắc chắn sẽ đem lại nhiều điều thú vị cho du khách.

Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh

Quảng trường Hồ Chí Minh là một công trình văn hóa có tầm cỡ quốc gia, một tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện tấm lòng kính yêu của nhân dân tỉnh Nghệ An và nhân dân cả nước đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Công trình này được khởi công xây dựng vào năm 2000 - đúng dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Bác và khánh thành vào 19/5/2003 đúng dịp kỷ niệm 113 năm ngày sinh nhật Bác.

Quang truong HCM

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được mô phỏng từ hình ảnh Bác Hồ về thăm quê. Mặt tượng ngoảnh mặt về hướng Đông Bắc, thuận theo hướng ánh sáng tự nhiên, tôn thêm vẻ uy nghi hoành tráng khắc họa rõ hình dáng Bác: bước đi, vẻ mặt, ánh nhìn... chiều cao của tượng là 12m đặt trên đế. Bệ và khán đài có chiều cao 6m. Tượng có khối lượng trên 200 tấn được làm bằng đá hoa cương đồng màu, đồng chất khai thác ở tỉnh Bình Định. Bệ tượng làm bằng bê tông cốt thép, ốp đá hoa cương. Phía trước và xung quanh Tượng đài lát loại đá có kích thước 400 x 400 x 60mm, bố trí hoa văn thể hiện trang trọng, nghiêm túc. Các khu vực khác lát đá có hoa văn hình hoa thị tạo nên sự ấm áp. Phần Lễ đài ốp đá granite Bình Định. Sân hành lễ trồng cỏ lá tre, đường phân lô lát gạch granite. Đường diễu hành rộng 24,6m, rải bê tông nhựa nóng. Quảng trường còn có đài phun nước nhạc màu hiện đại nằm trong hồ hình bán nguyệt. Phía sau Tượng Bác là hình ảnh Núi Chung mô phỏng toạ trên diện tích 4 ha. Khối lượng đào đắp phủ đất là 167.600m3. Núi được tạo dáng hình chữ "Vương". Đỉnh cao nhất 11m, đỉnh thấp 9m và có đường lên núi tham quan thuận tiện. Mặt trước núi có trồng cây xanh tạo phông cho tượng, hai bên trồng các giống cây từ 61 tỉnh thành gửi về. Phía sau núi tạo rừng nguyên sinh phục vụ hoạt động vui chơi nghỉ ngơi cho du khách đến thăm công viên.
Nơi đặt tượng đài Bác là quảng trường rộng gần 11 ha, tên gọi là Quảng trường Hồ Chí Minh, với nhiều hạng mục như: lễ đài, cột cờ, đường diễu hành, sân hành lễ, hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh, hệ thống đài phun nước tạo cảnh, núi Chung mô phỏng theo núi Chung ở Làng Sen quê Bác vừa tạo khung cảnh hoành tráng của Quảng trường, vừa thể hiện sự gần gũi của Bác Hồ đối với quê hương. Trên 1.650 loài cây tiêu biểu của mọi miền Tổ quốc đã được đem về trồng, trên đỉnh có vườn cây lưu niệm của các đ/c lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế trồng trong những dịp đến thăm.
Đến Thành phố Vinh, thành phố đỏ anh hùng trong những ngày tháng Năm lịch sử, vào thăm Quảng trường Hồ Chí Minh, du khách như được trải lòng vào một không gian mênh mông, cảnh sắc tươi đẹp, rực rỡ cờ, hoa và không khỏi bùi ngùi, xúc động khi được nghiêng mình trước Tượng đài Bác Hồ, xao xuyến con tim khi được nghe câu hát "Nghĩ về Bác, lòng ta trong sáng hơn, đứng nơi đây mà rộng mở tâm hồn" và như còn nghe ấm áp đâu đây lời nói của Người khi về thăm quê “Người ta đi lâu ngày về thăm quê thì mừng mừng, tủi tủi, còn tôi thì chỉ thấy mừng mừng... Quê hương nghĩa trọng tình cao/ Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình".
Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh đã trở thành một điểm văn hóa quan trọng thu hút ngày càng đông nhân dân thành phố, du khách trong tỉnh, trong nước và thế giới quây quần bên Người thăm quan, vui chơi, tổ chức lễ hội...

thue xe nghe an